Bản tin Pháp luật | Cập nhật mới về Luật Công Nghệ Cao 2025

Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Công Nghệ Cao số 133/2025/QH15 (“Luật CNC 2025”) được xem là một bước đi quan trọng để thể chế hóa tinh thần đưa phát triển khoa học công nghệ là đột phá quan trọng hàng đầu của quốc gia, hướng tới tự chủ công nghệ và phát triển bền vững theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Luật CNC 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 và thay thế Luật Công Nghệ Cao số 21/2008/QH12 (“Luật CNC 2008”).

Tiêu điểm

  • Thúc đẩy nội địa hóa hướng tới tự chủ công nghệ: Khái niệm công nghệ cao được mở rộng. Bổ sung, hoàn thiện khái niệm công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, tạo cơ sở để ban hành các chính sách thúc đẩy sự phát triển các công nghệ cao hướng tới tự chủ công nghệ quốc gia. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp công nghệ chiến lược không vượt quá 49%.
  • Tăng cường các chính sách ưu đãi: Thiết lập hệ thống chính sách ưu đãi toàn diện và vượt trội (từ đất đai, tín dụng, thuế đến mua sắm công và hỗ trợ nghiên cứu – phát triển) nhằm thúc đẩy doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất, làm chủ và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược, qua đó nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghệ quốc gia.
  • Phân loại hệ thống doanh nghiệp với các ưu đãi riêng: Thiết lập cơ chế phân loại doanh nghiệp công nghệ cao theo mức độ tham gia chuỗi giá trị, năng lực nghiên cứu – phát triển và tỷ lệ nội địa hóa, qua đó làm cơ sở áp dụng các chính sách ưu đãi khác nhau, bảo đảm hỗ trợ có trọng tâm, khuyến khích đầu tư chiều sâu và thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược nòng cốt.
  • Phân quyền cho địa phương: Đẩy mạnh phân quyền cho địa phương trong thành lập và quản lý các khu công nghệ cao, triển khai và thu hút đầu tư công nghệ cao, tăng tính chủ động, linh hoạt và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội đặc thù của từng vùng.
  • Xây dựng hệ sinh thái và cơ sở hạ tầng toàn diện: Phát triển hệ sinh thái công nghệ cao đồng bộ, gắn kết hạ tầng, nghiên cứu – phát triển, doanh nghiệp, đô thị, áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tạo nền tảng cho sự phát triển đổi mới sáng tạo nhưng vẫn an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.

Công nghệ cao – Công nghệ chiến lược

Luật CNC 2025 đã làm rõ, mở rộng và đồng nhất các khái niệm về công nghệ cao (“CNC”) và sản phẩm CNC. Theo đó, “CNC là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tích hợp các thành tựu khoa học tiên tiến, có tính đột phá, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường”. Từ đó, sản phẩm CNC sẽ không chỉ bao gồm sản phẩm mà còn bao gồm cả dịch vụ do CNC tạo ra. Quy định này là hợp lý trong bối cảnh hiện nay khi xã hội đã có sự xuất hiện và phổ biến của nhiều dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội có ứng dụng CNC như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (blockchain) hay công nghệ dữ liệu lớn (big data).

Bên cạnh CNC, Luật CNC 2025 đã đưa ra quy định mới về công nghệ chiến lược là “Công nghệ chiến lược là công nghệ có tính đột phá và lan tỏa, được Nhà nước xác định tập trung đầu tư phát triển nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững”. Khái niệm công nghệ chiến lược vốn đã được quy định tại Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025, tuy nhiên chưa cụ thể với tính chất tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, tự chủ công nghiệp và chưa có sự khác biệt nhiều với khái niệm CNC đơn thuần. Quy định mới tại Luật CNC 2025 là cách tiếp cận rõ ràng hơn, tạo cơ sở để tập trung chính sách thúc đẩy, nguồn lực và ưu đãi ở mức cao nhất cho các công nghệ/sản phẩm công nghệ chiến lược mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự phát triển của quốc gia.

Các tiêu chí để xác định công nghệ chiến lược được dựa trên cơ sở mang tính then chốt, dài hạn đối với sự phát triển của quốc gia. Cả CNC và công nghệ chiến lược đều hướng tới việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, trong khi CNC chủ yếu tập trung vào việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng vượt trội, giá trị gia tăng cao và khả năng ứng dụng rộng, thì công nghệ chiến lược nhấn mạnh tác động đột phá, khả năng tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài và vai trò định hình phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới và chuỗi giá trị mới. Công nghệ chiến lược đặt trọng tâm vào năng lực tự chủ và làm chủ công nghệ, có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức hay cá nhân trong nước nghiên cứu và làm chủ để tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.

Danh mục CNC/sản phẩm CNC, công nghệ chiến lược/sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được Thủ tướng Chính phủ ban hành định kỳ trên cơ sở các tiêu chí phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội từng giai đoạn.

Phân loại hệ thống doanh nghiệp trong hoạt động công nghệ cao

Theo quy định mới tại Luật CNC 2025, nhóm các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNC được hệ thống lại, với các tiêu chí phải đáp ứng như sau:

Doanh nhiệp Tiêu chí
Doanh nghiệp CNC nhóm 1
  • Sản xuất sản phẩm CNC thuộc Danh mục sản phẩm CNC;
  • Áp dụng các biện pháp môi trường, tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, khu vực hoặc nước ngoài.
  • Sở hữu, đồng sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp công nghệ hoặc có hoạt động chuyển giao công nghệ;
  • Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển.
  • Thực hiện hoạt động R&D;
  • Sản xuất sản phẩm CNC đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu do Chính phủ quy định theo ngành, lĩnh vực;
  • Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hàng năm đạt tối thiểu 1% trên doanh thu thuần sau khi trừ giá trị đầu vào.
Doanh nghiệp CNC nhóm 2 X
Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC X X
Doanh nghiệp công nghệ chiến lược
  • Sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược;
  • Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong nước từ 51% trở lên, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định để thu hút công nghệ chiến lược quan trọng;
  • Sở hữu hoặc đồng sở hữu công nghệ chiến lược, công nghệ lõi phục vụ sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược tại Việt Nam;
  • Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển, tỷ lệ nội địa hóa, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển.

Thông qua việc phân tách các doanh nghiệp thành các nhóm cụ thể đã mang đến một ý nghĩa quan trọng cả về lập pháp lẫn thực tiễn. Cách phân tách này khắc phục những điểm yếu, hạn chế của Luật CNC 2008 khi chỉ quy định một loại hình doanh nghiệp ứng dụng CNC, dẫn đến chính sách ưu đãi mang tính dàn trải, chưa phản ánh đúng mức độ đầu tư và năng lực công nghệ của doanh nghiệp. Luật CNC 2025 đã xác định các tiêu chí của từng nhóm doanh nghiệp, phân tầng rõ ràng với các mức độ ưu đãi khác nhau.

Theo đó, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và doanh nghiệp CNC nhóm 1 là nhóm doanh nghiệp được hưởng ưu đãi cao nhất về đầu tư, thuế, đất đai. Các doanh nghiệp CNC nhóm 2, tức không có hoạt động R&D hay không đáp ứng các tiêu chí về tổng chi cho R&D, tỷ lệ nội địa hóa sản xuất thì sẽ không được hưởng các mức ưu đãi cao nhất như nhóm 1. Nhóm doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC chỉ được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Có thể thấy, mỗi nhóm doanh nghiệp sẽ được hưởng các mức ưu đãi khác nhau. Việc hệ thống lại của Luật CNC 2025 giúp xác định, đánh giá và áp dụng các ưu đãi phù hợp, đồng thời khuyến khích sự phát triển với những tiêu chí và ưu đãi cụ thể.

Thúc đẩy bằng chính sách và ưu đãi đặc thù

Sản xuất sản phẩm CNC, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ CNC thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Luật CNC 2025 đã đưa ra hàng loạt các chính sách ưu đãi và hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo, tăng cường nội địa hóa và tự chủ về công nghệ như sau:

  • Ưu đãi trong đấu thầu, mua sắm công và các dự án đối tác công tư: Cơ sở ươm tạo CNC, ươm tạo doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC không phải chứng minh khả năng thu xếp vốn của chủ sở hữu trong hoạt động đấu thầu và trong các dự án đối tác công tư. Ngoài ra, các sản phẩm CNC và công nghệ chiến lược sẽ được ưu tiên trong đấu thầu và mua sắm công, góp phần thúc đẩy sự tham gia của các sản phẩm CNC trong các lĩnh vực công cộng.
  • Ưu đãi thủ tục hải quan và thuế xuất nhập khẩu: Doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC khi đáp ứng các điều kiện luật định thì được áp dụng các chế độ ưu tiên trong các thủ tục hải quan. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất, nghiên cứu của doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp CNC, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNC được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn năm (05) năm kể từ khi bắt đầu nghiên cứu, sản xuất.
  • Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển CNC, doanh nghiệp CNC nhóm 1 được áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm.
  • Thúc đẩy hợp tác quốc tế nhưng vẫn tăng tính tự chủ nội địa: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện mua bán, sáp nhập, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược bằng chính sách hỗ trợ của Nhà nước về chi phí thẩm định công nghệ, tư vấn pháp lý và ưu đãi thuế đối với phần giá trị công nghệ tiếp nhận. Chủ trương phát triển CNC là thúc đẩy chuyển giao CNC từ nước ngoài vào Việt Nam phải kèm theo cam kết R&D nội địa. Luật thể hiện định hướng rõ ràng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế theo hướng chủ động và có điều kiện, tránh phụ thuộc vào công nghệ và vốn nước ngoài; không biến Việt Nam thành “xưởng gia công” trong chuỗi giá trị toàn cầu, mà hướng tới việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong các khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi sản xuất, bao gồm nghiên cứu – phát triển, làm chủ công nghệ và sản xuất lõi.
  • Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển: Tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động nghiên cứu và phát triển bao gồm nghiên cứu sáng tạo, giải mã, làm chủ, cái tiến, ứng dụng, thử nghiệm và hoàn thiện được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, lao động, nhà ở, xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, cấp giấy phép lao động và ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật.

Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ và hệ sinh thái toàn diện

Luật CNC 2025 đã thể hiện chủ trương xây dựng, phát triển một hệ sinh thái toàn diện phục vụ việc nghiên cứu, đầu tư và phát triển CNC, thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể quan trọng trong hệ sinh thái và tập trung vào việc tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển bền vững. Điều này tạo ra cơ sở pháp lý thuận lợi hơn, kỳ vọng nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu, giảng dạy, doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và cơ quan quản lý trong hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng CNC tại Việt Nam. Định hướng phát triển một hệ sinh thái như hiện nay chính là một hướng đi đúng đắn.

Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp CNC giữ vai trò trung tâm và khu CNC là nơi tập trung, liên kết các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, giảng dạy bồi dưỡng, xúc tiến thương mại kết nối cung cầu, cung cấp hạ tầng, và đặc biệt là thử nghiệm có kiểm soát việc sản xuất các sản phẩm và áp dụng các chính sách mới cho mục đích hình thành lên hệ sinh thái CNC toàn diện và an toàn.

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Luật CNC 2025 là thẩm quyền thành lập, mở rộng và điều chỉnh khu CNC sẽ được chuyển cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thay vì Thủ tướng Chính phủ như quy định trong Luật CNC 2008. Sự chuyển giao quyền này giúp rút ngắn quy trình phê duyệt, giúp cho các địa phương có thể chủ động hơn trong việc phát triển các khu CNC phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu phát triển của mỗi địa phương, linh hoạt trong thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng CNC.

Luật CNC 2025 cũng đưa vào quy định mới về đô thị CNC. Đô thị CNC là một đô thị được hình thành và phát triển dựa trên hệ sinh thái CNC, trong đó khu CNC, các tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm. Đô thị CNC không chỉ tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng như các đô thị bình thường mà còn chú trọng xây dựng và phát triển các tổ chức công nghệ và khoa học, nhằm tạo ra một môi trường sống xanh, thông minh và thuận lợi cho sự phát triển CNC và đổi mới sáng tạo. Sự hình thành và phát triển của các đô thị CNC được kỳ vọng sẽ tạo ra những môi trường sống và làm việc hiện đại, nơi công nghệ và nghiên cứu khoa học đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của đô thị.

Kết luận

Luật CNC 2025 khẳng định định hướng chiến lược của Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển CNC, công nghệ lõi và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa. Với các chính sách ưu đãi thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, Luật không chỉ tạo động lực cho đổi mới sáng tạo mà còn đặt nền tảng cho việc hình thành các khu, đô thị và hệ sinh thái CNC, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Các doanh nghiệp và nhà đầu tư cần chủ động theo dõi, cập nhật kịp thời các thay đổi của khung pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm nắm bắt đầy đủ các quy định và chính sách ưu đãi mới. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể sẵn sàng điều chỉnh chiến lược, mô hình hoạt động và kế hoạch đầu tư để tham gia hiệu quả vào thị trường, tận dụng các cơ hội hỗ trợ, qua đó thúc đẩy hợp tác công nghệ và phát triển bền vững tại Việt Nam trong thời gian tới.

Bài viết liên quan