
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 06 năm 2026
Trong bài viết tuần trước, chúng tôi đã cung cấp một số nội dung tổng quan về thừa kế tại Việt Nam. Ở bài viết tuần này, chúng tôi sẽ cung cấp các nội dung chính yếu liên quan đến thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam. Đây là nội dung quan trọng thể hiện nguyên tắc bình đẳng về thừa kế được pháp luật Việt Nam bảo hộ.
Chúng tôi mô tả giả định một cây phả hệ gia đình gồm 6 thế hệ dưới đây (hình 1) để người đọc tiện theo dõi các nội dung trong bài viết tuần này.

Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Về nguyên tắc chung, thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi thuộc các trường hợp sau:
- Không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp;
- Không còn người thừa kế nào theo di chúc;
- Người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Dựa trên yếu tố di sản thừa kế, thừa kế theo pháp luật còn được áp dụng đối với:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, người được thừa kế chết (đối với cá nhân) hoặc không còn tồn tại (đối với pháp nhân) tại thời điểm mở thừa kế.
Người thừa kế theo pháp luật
Tổng quan, người thừa kế theo pháp luật thông thường là người có quan hệ huyết thống, hôn nhân, hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Theo đó, có ba hàng thừa kế theo pháp luật bao gồm:
- Hàng thừa kế thứ nhất: vợ, chồng (thế hệ F3), cha / mẹ đẻ (thế hệ F2), cha / mẹ nuôi (thế hệ F2), con đẻ, con nuôi (thế hệ F4);
- Hàng thừa kế thứ hai: ông / bà nội (thế hệ F1), ông / bà ngoại (thế hệ F1), anh / chị / em ruột (thế hệ F3); cháu ruột (thế hệ F5) (nếu người chết là ông bà nội / ngoại);
- Hàng thừa kế thứ ba: cụ nội / ngoại (thế hệ F0); bác / chú / cậu / cô / dì ruột (thế hệ F2); cháu ruột (thế hệ F4) (nếu người chết là bác / chú / cậu / cô / dì ruột); chắt ruột (thế hệ F6) (nếu người chết là cụ nội / ngoại).
Áp dụng hàng thừa kế theo pháp luật
- Những người thừa kế cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản ngang bằng nhau.
- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu người thừa kế ở hàng thừa kế trước không còn, không có quyền hoặc bị truất quyền hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản.
- Bộ luật Dân sự 2015 quy định vềthừa kế thế vị, theo đó cháu của người để lại di sản (thế hệ F5) được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu (thế hệ F4) lẽ ra được hưởng từ người để lại di sản (thế hệ F3), trong trường hợp người con đó chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.
Trường hợp cháu của người để lại di sản (thế hệ F5) cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (thế hệ F3), thì chắt của người để lại di sản (thế hệ F6) được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của mình lẽ ra được hưởng nếu còn sống.
Thừa kế theo pháp luật trong một số trường hợp đặc biệt
Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế của các chủ thể liên quan trong một số quan hệ đặc biệt (khác biệt so với quan hệ huyết thống) như sau:
- Quan hệ con nuôi – cha / mẹ nuôi: Con nuôi (thế hệ F3) và cha / mẹ nuôi hợp pháp (thế hệ F2) được thừa kế di sản của nhau, được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất và được áp dụng thừa kế thế vị.
- Quan hệ con riêng – bố dượng, mẹ kế: Trường hợp nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con, con riêng (thế hệ F3) và bố dượng / mẹ kế (thể hệ F2) được thừa kế di sản của nhau và được thừa kế di sản tương tự như quan hệ con nuôi – cha / mẹ nuôi.
- Quan hệ vợ – chồng trong một số trường hợp đặc biệt:
- Vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại thì vợ hoặc chồng còn sống được thừa kế di sản của người chết.
- Vợ, chồng xin ly hôn (chưa có bản án, quyết định ly hôn của Tòa án hoặc bản án, quyết định ly hôn chưa có hiệu lực) thì vợ hoặc chồng còn sống được thừa kế di sản của người chết.
- Người đang là vợ/chồng tại thời điểm đối phương chết (dù sau đó đã kết hôn với người khác) thì người còn sống được thừa kế di sản của người chết.
Tạm kết
Về bản chất, việc phân chia di sản theo thừa kế theo pháp luật được thực hiện theo quy định pháp luật khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Vì vậy, khi lập di chúc, người để lại di sản cần cân nhắc và đánh giá đầy đủ các quy định về thừa kế theo pháp luật nhằm bảo đảm di chúc được lập và thực thi đúng quy định nhằm thể hiện đúng với mong muốn của mình.
Chúng tôi sẽ phân tích chế định thừa kế theo di chúc trong số tiếp theo của chuỗi bài viết này.
—
Đọc phần trước tại đây: Phần 1
Để được tư vấn về thừa kế, lập di chúc và phân chia di sản tại Việt Nam, vui lòng liên hệ đội ngũ của chúng tôi.
Liên hệ
Email: info@indochinecounsel.com
SĐT:(+84) 28 3823 9640