Bản tin Pháp luật | Luật Phục Hồi, Phá Sản: Khuôn Khổ Pháp Lý Mới Ưu Tiên Thủ Tục Phục Hồi Doanh Nghiệp

Nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và khắc phục những hạn chế của Luật Phá sản năm 2014 (“LPS 2014”), tại phiên họp sáng ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Phục hồi, Phá sản (“LPHPS Mới”), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2026 và thay thế LPS 2014. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trao đổi một số thay đổi đáng chú ý được giới thiệu theo quy định của LPHPS Mới.

Phạm Vi Điều Chỉnh và Các Nguyên Tắc Cơ Bản

LPHPS Mới điều chỉnh các vụ việc phục hồi và phá sản đối với doanh nghiệp và hợp tác xã được thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định về thủ tục phục hồi và thủ tục phục hồi rút gọn theo Luật này không áp dụng đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp tái bảo hiểm. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết các vụ việc phục hồi, phá sản trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

LPHPS Mới cũng thiết lập một số nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các thủ tục này, trong đó đáng chú ý bao gồm:

  • Ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi đối với các chủ thể (doanh nghiệp và hợp tác xã); và
  • Bảo đảm việc thực hiện các thủ tục phục hồi và phá sản kịp thời, hiệu quả, hài hòa lợi ích của các bên và tối ưu hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tình Trạng “Mất Khả Năng Thanh Toán”

Theo quy định của LPS 2014, một doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn trong thời hạn ba (3) tháng. Theo LPHPS Mới, doanh nghiệp sẽ bị coi là mất khả năng thanh toán nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn trong thời hạn sáu (6) tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Thủ Tục Phục Hồi Sớm Đối Với Doanh Nghiệp Có Nguy Cơ Mất Khả Năng Thanh Toán

Theo LPS 2014, thủ tục phục hồi là một phần của quá trình giải quyết phá sản và chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. LPHPS Mới đã bổ sung thủ tục phục hồi sớm như một thủ tục độc lập, áp dụng đối với các doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán, tức là trường hợp doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ sẽ đến hạn trong vòng sáu (6) tháng hoặc các khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá sáu (6) tháng.

Theo LPHPS Mới, thủ tục phục hồi được tiến hành sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi. Chủ thể yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi phải nộp cho Tòa án có thẩm quyền phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, danh sách chủ nợ và con nợ, cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Sau khi đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi được Tòa án có thẩm quyền thụ lý, doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nhưng sẽ chịu sự giám sát, hạn chế theo quy định pháp luật và áp dụng một số biện pháp bảo toàn tài sản, chẳng hạn như: (i) tạm dừng việc đóng quỹ hưu trí và tử tuất, đồng thời các khoản nợ thuế có thể được tạm thời “đóng băng” theo yêu cầu của Tòa án; (ii) tạm dừng việc thanh toán đối với các khoản nợ phát sinh trước thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu phục hồi; và (iii) mặc dù lãi đối với các khoản nợ này vẫn tiếp tục phát sinh, việc thanh toán lãi sẽ được tạm dừng cho đến khi Tòa án công nhận phương án phục hồi hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi.

Thủ Tục Phục Hồi, Phá Sản Rút Gọn

LPHPS Mới lần đầu tiên thiết lập thủ tục phục hồi rút gọn và thủ tục phá sản rút gọn nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý của LPS 2014 vốn trước đây chỉ quy định thủ tục phá sản thông thường kéo dài và tốn kém. Theo quy định mới, thời gian giải quyết thủ tục rút gọn này được rút ngắn khoảng 50% so với thủ tục thông thường.

Thủ tục phục hồi rút gọn được áp dụng đối với: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã có không quá 20 chủ nợ không có bảo đảm và tổng các khoản nợ gốc không quá 10 tỷ đồng; (ii) doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ hoặc siêu nhỏ; hoặc (iii) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Thủ tục phá sản rút gọn được áp dụng đối với: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã có không quá 20 chủ nợ không có bảo đảm và tổng các khoản nợ gốc không quá 10 tỷ đồng; (ii) doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ hoặc siêu nhỏ; (iii) doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản hoặc còn tài sản nhưng không thanh lý, thu hồi được hoặc còn tài sản nhưng không đủ để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, thanh toán chi phí phá sản; (iv) tổ chức tín dụng; (v) doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã bị Bộ Tài chính ban hành văn bản chấm dứt áp dụng các biện pháp kiểm soát nhưng không khắc phục được tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm; hoặc (vi) các trường hợp khác theo quy định của pháp luật hoặc theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Thủ Tục Phục Hồi và Phá Sản Trên Môi Trường Điện Tử

Để phù hợp với xu hướng số hóa và thúc đẩy việc giải quyết thủ tục nhanh chóng, hiệu quả hơn, LPHPS Mới cho phép một số hoạt động được thực hiện trên môi trường điện tử, bao gồm: việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản; nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc phá sản; nộp lệ phí, tiền tạm ứng và các chi phí liên quan đến phục hồi hoặc phá sản; nộp tài liệu, chứng cứ; tổ chức các phiên họp giải quyết vụ việc phục hồi và phá sản; và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

Mở Rộng Các Chủ Thể Có Quyền Hoặc Nghĩa Vụ Nộp Đơn Yêu Cầu Mở Thủ Tục Phá Sản

Theo LPHPS Mới, các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm:

  • chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần;
  • người lao động, công đoàn (trong trường hợp doanh nghiệp không thanh toán tiền lương và các khoản nợ khác đối với người lao động trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày đến hạn);
  • cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu tổng cộng từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên, hoặc tỷ lệ thấp hơn theo quy định tại Điều lệ công ty (không còn yêu cầu phải nắm giữ số cổ phần này liên tục trong ít nhất sáu tháng);
  • thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu tổng cộng từ 65% vốn điều lệ trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn theo Điều lệ công ty) (đây là chủ thể mới so với LPS 2014);
  • thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã, thành viên của liên hiệp hợp tác xã; và
  • cơ quan bảo hiểm xã hội (trong trường hợp cơ quan này không nhận được phản hồi từ doanh nghiệp trong vòng ba năm kể từ khi gửi yêu cầu thanh toán các khoản chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế).

Trong khi đó, các chủ thể sau đây có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; nếu không thực hiện nghĩa vụ này thì có thể phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản):

  • chính doanh nghiệp (thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc chủ sở hữu);
  • Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của công ty;
  • cơ quan thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; và
  • đại hội thành viên của hợp tác xã.

Đáng chú ý, LPHPS Mới quy định cơ quan thuế có nghĩa vụ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Ghi Nhận Chính Sách Hỗ Trợ Của Nhà Nước Trong Phục Hồi Và Phá Sản

LPHPS Mới chính thức ghi nhận vai trò hỗ trợ của Nhà nước thông qua các biện pháp về thuế, tín dụng, lãi suất và tài chính đất đai trong quá trình phục hồi và phá sản. Mặc dù các quy định hướng dẫn chi tiết vẫn đang được xây dựng, việc ghi nhận này cho thấy sự chuyển hướng trong chính sách theo hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp vượt qua khó khăn, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp có thể kỳ vọng các biện pháp hỗ trợ gắn với quá trình tái cấu trúc.

Bảo Đảm Nguồn Kinh Phí Tạm Ứng Chi Phí Phá Sản Trong Một Số Trường Hợp Đặc Biệt

Theo LPS 2014, pháp luật chưa có quy định xác định nguồn kinh phí để bảo đảm việc tạm ứng chi phí phá sản trong các trường hợp được miễn nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng, đặc biệt khi người nộp đơn là người lao động, tổ chức công đoàn hoặc khi doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản.

LPHPS Mới đã khắc phục khoảng trống pháp lý này bằng việc xác định rõ ngân sách nhà nước là nguồn kinh phí để tạm ứng chi phí phá sản trong một số trường hợp nhất định, bao gồm khi người nộp đơn là người lao động, tổ chức công đoàn, cơ quan thuế hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc khi doanh nghiệp không có đủ tài sản để chi trả các chi phí này. Đáng lưu ý, khoản tạm ứng này không phải là khoản hỗ trợ không hoàn lại mà phải được hoàn trả cho ngân sách nhà nước sau khi tài sản của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã được xử lý.

Từ góc độ chính sách, quy định này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thủ tục phục hồi và phá sản, giảm bớt rào cản tài chính ở giai đoạn khởi đầu, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền lợi của người lao động và lợi ích của các cơ quan nhà nước trong các trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Tăng Cường Vai Trò Của Tòa Án Và Quản Tài Viên

LPHPS Mới mở rộng đáng kể quyền hạn và nhiệm vụ của Thẩm phán, bao gồm quyền tiến hành hòa giải, công nhận các thỏa thuận, áp dụng án lệ và hỗ trợ giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Đồng thời, LPHPS Mới cũng siết chặt các yêu cầu về tính độc lập và khách quan của Quản tài viên, buộc họ phải từ chối tham gia khi tồn tại xung đột lợi ích, đồng thời mở rộng vai trò của họ trong việc triệu tập hội nghị chủ nợ, thu hồi tài sản và đại diện cho doanh nghiệp trong các tranh chấp. Những thay đổi này cho thấy các thủ tục phục hồi và phá sản theo luật mới sẽ mang tính quản lý, điều hành thực chất hơn, thay vì chỉ mang tính thủ tục hành chính.

Kết Luận

LPHPS Mới đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong cách tiếp cận của Việt Nam đối với việc xử lý khủng hoảng doanh nghiệp. Thay vì coi phá sản là “điểm kết thúc” của doanh nghiệp, LPHPS Mới thiết lập một khuôn khổ pháp lý trong đó cơ chế phục hồi được đặt ở vị trí trung tâm, với các cơ chế can thiệp sớm, phân định rõ trách nhiệm pháp lý và tăng cường vai trò chủ động của Tòa án cũng như các chủ thể liên quan.

Tuy nhiên, cùng với các cơ hội phục hồi gia tăng là những yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro, minh bạch tài chính và việc hành động kịp thời. Doanh nghiệp, người quản lý, cổ đông và các bên liên quan không còn có thể trì hoãn hoặc “chờ đến khi không còn lựa chọn”. Thay vào đó, các chủ thể này cần chủ động nhận diện rủi ro mất khả năng thanh toán, đánh giá khả năng phục hồi và cân nhắc các công cụ phục hồi mà pháp luật cho phép ngay từ giai đoạn sớm. Vì vậy, LPHPS Mới không chỉ nên được nhìn nhận như một đạo luật điều chỉnh thủ tục phục hồi và phá sản, mà còn là một khuôn khổ định hướng yêu cầu doanh nghiệp và người quản lý chuyển từ cách tiếp cận phản ứng thụ động trước khủng hoảng sang quản trị tài chính chủ động, có trách nhiệm và mang tính chiến lược.

Lĩnh vực hoạt động

Bài viết liên quan