
Ngày 05/11/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 41/2025/TT-NHNN (“Thông tư 41”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2024/TT-NHNN (“Thông tư 40”) về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Trong khi đa số các quy định của Thông tư 41 đã chính thức có hiệu lực từ 05/11/2025, một số quy định liên quan đến mở ví điện tử, xác thực khách hàng và cung cấp thông tin bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2026 mới đây. Bài viết này sẽ điểm lại các nội dung đáng chú ý của Thông tư 41.
Đảm Bảo An Toàn Trong Cung Ứng Dịch Vụ Trung Gian Thanh Toán
Theo Thông tư 41, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có nghĩa vụ thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy phép theo quy định khi ngừng cung cấp một hoặc một số dịch vụ trung gian thanh toán. Đồng thời, các tổ chức này cũng phải công bố công khai trên trang thông tin điện tử chính thức của mình chậm nhất là ba (03) tháng trước thời điểm ngừng cung cấp một hoặc một số dịch vụ trung gian thanh toán.
Tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải thường xuyên rà soát, đảm bảo khách hàng chỉ được sử dụng nguồn tiền từ tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng, ví điện tử để thực hiện giao dịch thanh toán trên các trình duyệt, ứng dụng cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán theo quy định của pháp luật.
Hồ Sơ Mở Ví Điện Tử
So với Thông tư 40, Thông tư 41 mở rộng quy định về giấy tờ tùy thân đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài. Theo đó, ngoài hộ chiếu, cá nhân là người nước ngoài có thể cung cấp giấy tờ khác chứng minh được nhân thân do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp khi làm hồ sơ mở ví điện tử.
Đối với tài liệu, thông tin, dữ liệu của khách hàng tổ chức, Thông tư 41 bổ sung yêu cầu về tài liệu, thông tin, dữ liệu của kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán của tổ chức (nếu có). Trường hợp tổ chức sử dụng tài khoản định danh điện tử, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử không yêu cầu cung cấp các tài liệu, thông tin, dữ liệu đã có trong tài khoản định danh điện tử của tổ chức. Điều này giúp thủ tục được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và minh bạch hơn.
Mở Ví Điện Tử Bằng Phương Tiện Điện Tử
Đối với hoạt động mở ví điện tử bằng phương tiện điện tử, Thông tư 41 yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải đảm bảo lưu trữ, bảo quản đầy đủ, chi tiết đối với các tài liệu, thông tin, dữ liệu nhận biết khách hàng trong quá trình mở, sử dụng ví điện tử bằng phương tiện điện tử, như:
- thông tin nhận biết khách hàng;
- các yếu tố sinh trắc học của chủ ví điện tử cá nhân, người đại diện hợp pháp của tổ chức mở ví điện tử;
- âm thanh, hình ảnh, bản ghi hình, ghi âm;
- số điện thoại đăng ký trên phần mềm ứng dụng của dịch vụ ví điện tử;
- thông tin định danh duy nhất của thiết bị giao dịch;
- nhật ký giao dịch; và
- kết quả đối chiếu thông tin sinh trắc học.
Các thông tin, dữ liệu phải được lưu trữ an toàn, bảo mật, được sao lưu dự phòng, đảm bảo tính đầy đủ, toàn vẹn của dữ liệu để phục vụ cho công tác kiểm tra, đối chiếu, xác thực chủ ví điện tử trong quá trình sử dụng ví điện tử, giải quyết tra soát, khiếu nại, tranh chấp và cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền.
Thời gian lưu trữ thông tin, dữ liệu phải thực hiện theo quy định của pháp luật phòng, chống rửa tiền và giao dịch điện tử.
Việc mở ví điện tử bằng phương tiện điện tử không áp dụng đối với trường hợp khách hàng cá nhân mở ví điện tử thông qua người đại diện theo pháp luật, người giám hộ.
Sử Dụng Ví Điện Tử
Mở rộng hơn so với Thông tư 40, Thông tư 41 cho phép rút tiền ra khỏi ví điện tử về thẻ ghi nợ có gắn với tài khoản đồng Việt Nam của chủ ví điện tử tại ngân hàng liên kết. Người dùng ví điện tử cũng có thể chuyển tiền từ ví điện tử đến thẻ ghi nợ có gắn với tài khoản đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Một điểm đáng lưu ý đó là, Thông tư 41 không cho phép người dùng ví điện tử rút tiền mặt từ ví điện tử tại tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.
Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử có trách nhiệm hướng dẫn người dùng sử dụng ví điện tử đảm bảo nguyên tắc áp dụng các biện pháp xác thực đối với từng loại giao dịch trong thanh toán bằng phương tiện điện tử theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành ngân hàng.
Hạn Mức Giao Dịch Qua Ví Điện Tử
Hạn mức giao dịch qua các ví điện tử cá nhân của một (01) khách hàng tại một (01) tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử (bao gồm giao dịch chuyển tiền và thanh toán) tối đa là 100 triệu đồng Việt Nam trong một (01) tháng. Quy định này không áp dụng với ví điện tử cá nhân của người có ký hợp đồng hoặc thỏa thuận làm đơn vị chấp nhận thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử.
Ngoài hạn mức nêu trên, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử được quy định thêm hạn mức, với tổng hạn mức không vượt quá 300 triệu đồng Việt Nam trong một (01) tháng, đối với các giao dịch thanh toán gồm:
- Thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Điện, nước, viễn thông;
- Các loại phí, giá, tiền dịch vụ liên quan đến hoạt động giao thông của phương tiện giao thông đường bộ;
- Học phí;
- Viện phí;
- Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
- Đóng phí bảo hiểm theo quy định tại Luật Kinh doanh Bảo hiểm; và
- Chi trả các khoản nợ đến hạn, quá hạn, lãi và các chi phí phát sinh cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định pháp luật.
Quy định này được mong đợi sẽ tạo cân bằng giữa nhu cầu thực tế và quản lý rủi ro, vừa tạo thuận lợi cho người dùng, vừa ngăn chặn việc lợi dụng ví điện tử cho mục đích rửa tiền, chuyển tiền bất hợp pháp hoặc tài trợ khủng bố.
Cung Cấp Thông Tin
Chậm nhất ngày 10 hàng tháng, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử cung cấp theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước thông tin về các ví điện tử có dấu hiệu gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Trong trường hợp có thay đổi về các thông tin này, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải kịp thời cập nhật gửi Ngân hàng Nhà nước; chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin, dữ liệu cung cấp cho Ngân hàng Nhà nước.
Khi thực hiện giao dịch chuyển tiền giữa các ví điện tử hoặc giữa ví điện tử với tài khoản đồng Việt Nam hoặc thẻ ghi nợ có gắn với tài khoản đồng Việt Nam mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ người khởi tạo có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ người thụ hưởng khi được yêu cầu các thông tin tối thiểu liên quan đến thông tin của người khởi tạo giao dịch, gồm: (i) tên của người khởi tạo; (ii) số ví điện tử hoặc số tài khoản của người khởi tạo; và (iii) địa chỉ đăng ký thường trú hoặc số định danh của người khởi tạo hoặc số tham chiếu giao dịch (khi không có tài khoản).
Các Nội Dung Có Hiệu Lực Từ Ngày 01/01/2026
Trình Tự, Thủ Tục Mở Ví Điện Tử
Thông tư 41 bổ sung yêu cầu định danh và xác thực chặt chẽ hơn đối với chủ ví điện tử. Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, đối chiếu bảo đảm sự khớp đúng, chính xác của các tài liệu, thông tin, dữ liệu mà khách hàng cung cấp; tiến hành xác minh thông tin nhận biết khách hàng theo quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền và các quy định sau:
| Khách hàng cá nhân | Khách hàng tổ chức |
Trường hợp chủ ví điện tử hoặc người đại diện là cá nhân sử dụng thẻ căn cước hoặc căn cước điện tử hoặc thẻ căn cước công dân (có bộ phận lưu trữ thông tin) hoặc danh tính điện tử, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải:
|
Trường hợp chủ ví điện tử là tổ chức được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải gặp mặt trực tiếp người đại diện hợp pháp của chủ ví điện tử, thực hiện kiểm tra xác minh thông tin người đại diện hợp pháp của chủ ví điện tử như đối với khách hàng cá nhân. |
Trường hợp chủ ví điện tử hoặc người đại diện là cá nhân sử dụng thẻ căn cước công dân (không có bộ phận lưu trữ thông tin) hoặc giấy khai sinh đối với người dưới 14 tuổi chưa có thẻ căn cước hoặc hộ chiếu, tổ chức cung ứng ví điện tử phải:
|
Trường hợp chủ ví điện tử là pháp nhân nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử được thực hiện xác minh thông tin người đại diện hợp pháp của chủ ví điện tử qua bên thứ ba hoặc thuê tổ chức khác nhưng phải đảm bảo bên thứ ba hoặc tổ chức khác gặp mặt trực tiếp người đại diện hợp pháp của chủ ví điện tử và thực hiện kiểm tra, đối chiếu giấy tờ tùy thân, đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của người đại diện hợp pháp với thông tin sinh trắc học hiển thị trên giấy tờ tùy thân của người đó. |
| Trường hợp chủ ví điện tử là cá nhân người nước ngoài không có mặt tại Việt Nam, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử được thực hiện xác minh thông tin nhận biết khách hàng thông qua bên thứ ba hoặc thông qua việc thuê tổ chức khác. | Các quy định trên sẽ không bắt buộc áp dụng với khách hàng tổ chức là:
|
| Trong trường hợp khách hàng đăng ký giao dịch trên phần mềm ứng dụng của dịch vụ ví điện tử, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải kiểm tra thông tin về số điện thoại của chủ ví điện tử hoặc người đại diện của chủ ví điện tử, đảm bảo thông tin về người sử dụng số thuê bao trùng khớp thông tin trên giấy tờ tùy thân của người đó. | Tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải kiểm tra thông tin về số điện thoại của người đại diện hợp pháp của chủ ví điện tử, đảm bảo thông tin về người sử dụng số thuê bao trùng khớp thông tin trên giấy tờ tùy thân của người đó. |
Đảm Bảo An Toàn, Bảo Mật Trong Mở và Sử Dụng Ví Điện Tử
Từ 01/01/2026, các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải lưu ý ban hành quy định nội bộ về quản lý rủi ro trong mở và sử dụng ví điện tử, có quy định về việc định kỳ thực hiện kiểm tra, đối chiếu, xác minh lại thông tin nhận biết khách hàng trong quá trình sử dụng ví điện tử. Ngoài ra, với quy định về xác định các loại rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động mở, sử dụng ví điện tử và biện pháp xử lý rủi ro tương ứng, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử phải quy định các trường hợp áp dụng từ chối hoặc tạm dừng thực hiện các giao dịch, trong đó có giao dịch thanh toán nhưng không thể liên hệ được với khách hàng theo thông tin liên hệ do khách hàng cung cấp.
Trách Nhiệm của Tổ Chức Cung Ứng Dịch Vụ Ví Điện Tử
Từ 01/01/2026, tổ chức cung cứng dịch vụ ví điện tử chỉ sử dụng một tên thương mại hoặc thương hiệu ví điện tử khi đã được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép.
Trường hợp thay đổi tên thương mại hoặc thương hiệu ví điện tử sau khi được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải gửi thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng Nhà nước (qua Vụ Thanh toán) và công bố công khai trên trang thông tin điện tử chính thức của tổ chức chậm nhất là một (01) tháng trước thời điểm thay đổi tên thương mại hoặc thương hiệu ví điện tử.
Thông tư 41 thể hiện rõ định hướng của Ngân hàng Nhà nước trong việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với thanh toán số, theo hướng vừa thúc đẩy tài chính toàn diện, vừa tăng cường quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng ví điện tử. Các quy định mới được kỳ vọng sẽ góp phần định hình sự phát triển minh bạch, an toàn và bền vững của thị trường ví điện tử tại Việt Nam trong thời gian tới.